• Banner vi
  • ltp
  • ltp

Mối quan hệ giữa quyền bào chữa và cơ chế minh oan

Báo cáo kết quả giám sát về tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật (“Báo cáo”) vừa được Ủy ban Thường vụ Quốc Hội công bố và đưa ra thảo luận tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII vừa qua cho thấy nguyên nhân chính dẫn đến các trường hợp oan, sai “chủ yếu thuộc về lỗi chủ quan của một số người tiến hành tố tụng (trình độ, năng lực yếu kém, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp hạn chế)…”. Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng được Báo cáo nêu ra, đó là: “không cử người bào chữa cho bị can là người chưa thành niên, không có người giám hộ hoặc Luật sư đối với bị hại chưa thành niên; vi phạm quy định bảo đảm quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can…gần 80% vụ án hình sự hiện nay chưa có Luật sư tham gia nên chưa bảo đảm tranh tụng để tránh oan, sai. Sự tham gia tố tụng của người bào chữa có trường hợp gặp khó khăn do do người tiến hành tố tụng thực hiện không đúng quy định về cấp giấy chứng nhận người bào chữa1”. Vậy, việc quy định và bảo đảm Quyền bào chữa, đặc biệt Quyền bào chữa của người bị kết án có ảnh hưởng như thế nào tới Cơ chế minh oan trong tố tụng hình sự (“TTHS”)? Trong phạm vi bào viết này, tác giả sẽ đi sâu phân tích mối quan hệ giữa hai yếu tố nêu trên trong bối cảnh nền tư pháp nước ta đang chuyển mình theo hướng hội nhập với nền văn minh pháp lý nhân loại nhằm ngăn chặn thực trạng oan, sai vốn là một khuyết tật của nền tư pháp trong giai đoạn gần đây.   

Trước hết bàn về Quyền bào chữa. Qua nghiên cứu cho thấy, Quyền bào chữa hình thành cùng lịch sử tố tụng hình sự vì ở đâu có hoạt động buộc tội thì ở đó phát sinh quyền gỡ tội - Quyền bào chữa. Ở một góc độ nào đó, Quyền bào chữa là phương tiện cho nhu cầu minh oan của con người.

Thật vậy, Quyền bào chữa trước hết là Quyền con người, nó gắn bó với con người trong suốt chu kỳ sống của họ2. Tuyên ngôn về Nhân quyền của Liên Hợp Quốc3 đã ghi nhận rằng: “Mọi người, nếu bị cáo buôc về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên toà xét xử công khai, nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình”.

Văn bản pháp lý quốc tế là như vậy nhưng khi nội luật hóa, pháp luật thực định mỗi quốc gia lại có quy định khác nhau dẫn đến cách hiểu về quyền bào chữa khác nhau. Vì thế, xung quanh khái niệm, nội dung, bản chất, chủ thể… của quyền này còn nhiều ý kiến khác nhau. Do vậy, việc xác định khái niệm quyền bào chữa của người bị nghi là tội phạm trong TTHS trên cơ sở lí luận và thực tiễn là điều vô cùng cần thiết để hoàn thiện chế định này trong Bộ luật tố tụng hình sự “BLTTHS”, từ đó góp phần làm sáng tỏ một trong những cấu thành cơ bản của cơ chế minh oan trong giai đoạn hiện nay. 

Đến nay, mặc dù đã được Hiến pháp, BLTTHS và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định khá đầy đủ về Quyền bào chữa cho người bị nghi là tội phạm (hay còn gọi là “người bị buộc tội” theo Điểm đ, Khoản 1, Điều 4, Bộ luật Hình sự năm 2015). Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học pháp lý thì khái niệm Quyền bào chữa còn có nhiều quan điểm khác nhau 4:

  • Quan điểm thứ nhất cho rằng Quyền bào chữa là tổng hoà các hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội và xác định người bị nghi là tội phạm không có lỗi hoặc nhằm làm giảm trách nhiệm hình sự của họ.
  • Quan điểm thứ hai cho rằng, Quyền bào chữa được hiểu rộng hơn, nó không chỉ dừng lại ở việc bác bỏ sự buộc tội và xác định người bị nghi là tội phạm không có lỗi hay làm giảm trách nhiệm hình sự của họ mà nó còn được thể hiện trong cả việc đảm bảo các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ họ ngay cả khi chúng không trực tiếp liên quan tới việc làm giảm trách nhiệm hình sự của họ trong vụ án.
  • Quan điểm thứ ba cho rằng, Quyền bào chữa không chỉ thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc về người bị nghi là tội phạm, người bị kết án, người bào chữa, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ.
  • Quan điểm thứ tư cho rằng, Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là tổng hoà các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng (“THTT”), làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự (“VAHS”).
  • Quan điểm thứ năm cho rằng, Không chỉ người bị nghi là tội phạm mà cả người bị hại cũng cần đến Quyền bào chữa. Nhân chứng, giám định viên và cả những người tham gia tố tụng khác cũng vậy, nếu quyền lợi hợp pháp của họ bị xâm hại.

Như vậy, khái niệm Quyền bào chữa trong TTHS đã được hiểu rất khác nhau. Theo tác giả, tất cả các quan điểm về quyền bào chữa nói trên mặc dù đã phần nào mô tả được nội dung, bản chất, đặc biệt là chủ thể của quyền này nhưng đều chưa hoàn toàn chính xác bởi nếu cho rằng quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can như quan điểm thứ nhất và thứ hai thì quá hẹp về phạm vi chủ thể, còn nếu cho rằng quyền bào chữa còn thuộc về cả người bị hại, nguyên đơn dân sự, người tham gia tố tụng khác như quan điểm thứ ba, thứ tư và thứ năm thì quá rộng và chưa phản ánh đúng bản chất của Quyền bào chữa.

Trở lại với pháp luật thực định, người viết cũng chưa hoàn toàn đồng ý với quan điểm của BLTTHS hiện hành về phạm vi chủ thể của quyền bào chữa, cụ thể là theo quy định tại Điều 11, BLTTHS năm 2003 thì có 3 chủ thể được thực hiện Quyền bào chữa là “người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”. So với Bộ luật hiện hành thì BLTTHS 2015 (mới) có phạm vi chủ thể rộng hơn, bao gồm cả người bị bắt Người bị buộc tội (gồmngười bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa – Điều 16 BLTTHS năm 2015”. Theo các quy định này, Quyền bào chữa hiện nay và cả tới đây chỉ thuộc về 4 đối tượng đó là:người bị tạm giữ, người bị bắt, bị can, bị cáo chứ không mở rộng thêm bất kỳ đối tượng nào khác, đặc biệt là bỏ qua đối tượng là người bị kết án; và nội dung, Quyền này chỉ giới hạn trong việc bác bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội nhằm chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội. Thực trạng tư pháp trong những năm vừa qua cho thấy, có nhiều người bị kết án (bị án), là những đối tượng đã bị Tòa án tuyên hình phạt bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật và đang phải chấp hành hình phạt tù vẫn không ngừng chứng minh sự vô tội của mình và đã được minh oan bằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng mà điển hình cho những trường hợp này phải kể đến bị án Nguyễn Thanh Chấn ở tỉnh Bắc Giang, trong quá trình chấp hành hình phạt tù không ngừng kêu oan và nhờ người thân điều tra ra dấu vết của thủ phạm (Lý Nguyễn Chung), sau đó được xác định vô tội; hay bị án Huỳnh Văn Nénbị kết án về tội giết người và cướp tài sản tại Bình thuận, mặc dù phải chấp hành hình phạt tù nhưng bị án này và người thân không ngừng kêu oan và cũng tương tự như vụ án của ông Nguyễn Thanh Chấn, bị án đã được minh oan.


Cũng theo Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nêu trên, trong phần nhận định về những thiếu sót, sai phạm của Tòa án cấp phúc thẩm (trg,17) thì “Trong số 06 bị cáo được Tòa án cấp phúc thẩm tuyên không phạm tội thì thì có đến 05 trường hợp bị xem xét theo trình tự giám đốc thẩm, hủy bản án phúc thẩm để điều tra, xét xử lại với cả 05 trường hợp”. Thực tế này cho thấy, ngay khi bản án đã có hiệu lực pháp luật thì người bị kết án, đang phải chấp hành hình phạt vẫn được minh oan thông qua thủ tục giám đốc thẩm, mà ở đó không loại trừ việc họ đã thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn thi hành án phạt tù bằng cách kiến nghị, kêu oan với cá nhân, tổ chức có thẩm quyền như 02 trường hợp bị oan điển hình nêu trên.   


Vấn đề đặt ra ở đây là nhà nước có quyền hạn chế hay tước đoạt Quyền bào chữa của người đã bị kết án hay không? Theo quan điểm của tác giả thì nhà nước không thể thủ tiêu quyền này của người bị kết án bởi (i) Người bị kết án (hay còn gọi là Bị án) cũng là người bị buộc tội vì để kết án một người nào đó, cơ quan tiến hành tố tụng phải trải qua khâu buộc tội, mà đã là người bị buộc tội (dù hoàn thành hay chưa hoàn thành việc bị buộc tội) thì họ vẫn được duy trì quyền bào chữa như một quyền tự có của họ; (ii) Ngay cả khi một ai đó bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật thì khả năng bản án này có nguy cơ mắc phải sai lầm là điều khó tránh khỏi, và khi bản án kết tội bị sai lầm thì dẫn tới kết án ai đó có thể sai, thậm chí là làm oan họ nên việc duy trì, công nhận và cho thực thi Quyền bào chữa của người bị kết án là cần thiết nhằm tránh oan, sai như 2 ví dụ đã nêu ở trên; và (iii) cơ chế tố tụng hình sự cũng cho phép xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật kết tội một ai đó bằng quyền đề nghị kháng nghị và quyền kháng nghị của người có thẩm quyền. Như vậy nếu trao quyền đề nghị kháng nghị (phát hiện, thông báo theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm) cho người bị kết án thì cớ sao lại không quy định họ có Quyền bào chữa ngay cả khi đang chấp hành hình phạt?. Tác giả cho rằng, hành vi của người bị kết án được quyền “thông báo cho người có quyền kháng nghị” biết những sai sót trong bản án  đã có hiệu lực để ra kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm (Điều 274 BLTTHS 2003 và Điều 374 BLTTHS năm 2015), hoặc kháng nghị theo thủ tục tái thẩm theo quy định tại Điều 292 BLTTHS 2003 và Điều 399 BLTTHS năm 2015, chính là một cách quy định gián tiếp Quyền bào chữa cho người bị kết án. Tuy nhiên, Quyền bào chữa cho người bị kết án chưa được hiện mình một cách chính danh, đã và có thể sẽ tiếp tục gây ra những cản trở nhất định cho cơ hội minh oan của chính những người bị rơi vào vòng lao lý. 


Bởi những lý do nêu trên, việc mở rộng phạm vi chủ thể của Quyền bào chữa và ghi nhận chính thức nó như một quyền cơ bản của con người trong BLTTHS không chỉ góp phần bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự nói chung mà còn có ý nghĩa thiết thực trong việc ngăn chặn tình trạng oan, sai đang được phát hiện ngày càng nhiều trong thời gian gần đây. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, xem xét sự phù hợp trong mối quan hệ giữa chế định Quyền bào chữa của người bị buộc tội với Cơ chế minh oan trong tố tụng hình sự là điều hết nên làm, ngay cả khi BLTTHS vừa mới được sửa đổi, thông qua và chưa có hiệu lực thi hành.     

1 Trích Báo cáo kết quả giám sát về tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 20/5/2015.

2 Theo pháp luật của đa số các nước trên thế giới, nếu một người bị nghi là tội phạm đã chấm dứt sự sống sinh học thì các cáo buộc nhằm vào họ cũng bị đình chỉ và vì vậy, không ai có thể trực tiếp thực hiện được quyền bào chữa khi họ không còn tồn tại nữa.

3 Điều 11.1 Tuyên ngôn nhân quyền được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948.

Nguồn bross.vn